Tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam trong quý II/2011 đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2010. Tính riêng trong tháng 6/2011, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta đạt hơn 645 triệu USD, tăng 12,9% so với tháng trước và tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2010. Đây cũng là tháng đầu tiên tính từ đầu năm đến nay kim ngạch xuất khẩu giầy vượt ngưỡng 600 triệu USD/tháng, cao nhất trong lịch sử ngành da giầy từ trước đến nay. Tính đến hết tháng 6/2011, xuất khẩu giầy dép của nước ta đã hoàn thành được 52,1% so với kế hoạch đặt ra. Như vậy, mục tiêu mà ngành da giầy của nước ta đặt ra là trong năm 2011 sẽ thu về 5,5 tỷ USD hoàn toàn có thể đạt được. Xuất khẩu giầy dép của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm nay sang hầu hết các thị trường đều tăng. Trong đó, EU tiếp tục là khu vực dẫn đầu về kim cngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam, với kim ngạch đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng 18,54% so với cùng kỳ năm 2010.
Mặc dù môi trường kinh doanh trong 6 tháng đầu năm khó khăn nhưng các nhà sản xuất - xuất khẩu da giầy Việt Nam đã đạt được những thành quả rất đáng tự hào, khi những con số kim ngạch xuất khẩu sản phẩm ra thế giới liên tục tăng trưởng mạnh.
Theo số liệu thống kê chính thức, tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của Việt Nam trong quý II/2011 đạt hơn 3 tỷ USD, tăng 32,5% so với cùng kỳ năm 2010. Tính riêng trong tháng 6/2011, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta đạt hơn 645 triệu USD, tăng 12,9% so với tháng trước và tăng 33,6% so với cùng kỳ năm 2010. Đây cũng là tháng đầu tiên tính từ đầu năm đến nay kim ngạch xuất khẩu giầy vượt ngưỡng 600 triệu USD/tháng, cao nhất trong lịch sử ngành da giầy từ trước đến nay. Tính đến hết tháng 6/2011, xuất khẩu giầy dép của nước ta đã hoàn thành được 52,1% so với kế hoạch đặt ra. Như vậy, mục tiêu mà ngành da giầy của nước ta đặt ra là trong năm 2011 sẽ thu về 5,5 tỷ USD hoàn toàn có thể đạt được.
Hiệp hội Da giầy Việt Nam (Lefaso) cho biết, hiện các doanh nghiệp ngành da giày đã có đủ đơn hàng ổn định đến hết quý III/2011 và đạt được một số thỏa thuận mới cho hợp đồng đặt hàng của quý IV/2011. So với năm 2010, số lượng đơn đặt hàng tăng khoảng 20%. Trong đó, giá đơn hàng tăng 7 - 10%. Với đà tăng trưởng đầy lạc quan này, khả năng ngành da giày VN sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu cả năm 2011 là trên 6 tỷ USD (vượt so với kế hoạch đề ra từ 9 - 10%, tăng từ 28 - 30% so với năm 2010).
Ngành da giầy hiện có 450 doanh nghiệp (70 - 80% nằm ở phía Nam) với khoảng 750 dây chuyền đồng bộ, công suất 650 triệu đôi giầy/năm. Đặc biệt, các doanh nghiệp đều tập trung cải tiến công nghệ, từ thiết kế mẫu mã đến sản xuất. Các doanh nghiệp da giầy đang có lượng đơn hàng khá dồi dào do có sự chuyển dịch mạnh mẽ các đơn hàng từ Trung Quốc, nhiều khách hàng cũ đã quay lại sau khi EU chấm dứt áp thuế chống bán phá giá lên giầy mũ da Việt Nam. Đồng thời, năng lực sản xuất của các doanh nghiệp trong ngành cũng đã được nâng lên để đáp ứng yêu cầu của khách hàng.
Để tăng tính cạnh tranh cho các doanh nghiệp trong nước, Hiệp hội da giầy Việt Nam cho rằng, các doanh nghiệp nên vừa tập trung vào sản xuất hàng gia công xuất khẩu vừa phải khai thác tối đa thị trường nội địa, đồng thời đầu tư nhiều hơn cho khâu thiết kế. Bên cạnh đó, hiệp hội cũng khuyến khích các doanh nghiệp mở thêm chi nhánh sản xuất tại các tỉnh nhằm giải quyết vấn đề thâm hụt lao động đang diễn ra trầm trọng hiện nay.
Về thị trường xuất khẩu: Trong tháng 6/2011, EU tiếp tục là thị trường số 1 về xuất khẩu giầy dép của Việt Nam, với kim ngạch đạt xấp xỉ 282 triệu USD, tăng 18,7% so với tháng trước và tăng 24,75% so với cùng kỳ năm 2010, chiếm 43,7% trong tổng kim ngạch. Tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU trong quý II/2011 đạt hơn 1,2 tỷ USD, tăng 18,54% so với cùng kỳ năm 2010.
Trong đó, tuy kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang thị trường Anh giảm 6,4% so với tháng trước, đạt gần 46,7 triệu USD nhưng Anh vẫn là thị trường xuất khẩu nhiều giầy dép nhất trong khu vực EU. Tính chung 6 tháng đầu năm 2011, tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang Anh đạt 241,87 triệu USD, giảm nhẹ 0,2% so với cùng kỳ năm 2010. Đáng chú ý, so với tháng trước ngoại trừ thị trường Anh có kim ngạch giảm sút thì kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường còn lại đều đạt mức tăng trưởng. Trong đó, có nhiều thị trường đạt mức tăng trưởng khá cao như: Bồ Đào Nha (tăng 109,86%, đạt 972,8 nghìn USD); Ba Lan (tăng 64,29%, đạt 3,51 triệu USD); Áo (tăng 62,36%, đạt hơn 32 triệu USD)…
Trong tháng 6/2011, xuất khẩu giày dép sang thị trường Mỹ quay đầu giảm nhẹ so với tháng trước (giảm 3,48%), đạt hơn 167,8 triệu USD. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2010 vẫn tăng tới 40,08%, chiếm 26% trong tổng kim ngạch. Tính chung 6 tháng đầu năm nay, tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta sang thị trường này đạt 880,77 triệu USD, tăng 42,22% so với cùng kỳ năm 2010.
Nhật Bản tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu giầy dép của Việt Nam trong tháng 6/2011, với kim ngạch đạt gần 22,6 triệu USD, tăng 42,91% so với tháng trước và tăng 51,02% so với cùng kỳ năm 2010. Tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang thị trường này trong 6 tháng qua vẫn đạt mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2010 (tăng 65,46%), đạt hơn 128 triệu USD.
Nhìn chung, kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang hầu hết các thị trường đều tăng so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, xuất khẩu sang thị trường Chilê đạt mức tăng trưởng mạnh nhất (tăng tới 5.152,41%); tiếp đến là thị trường Hồng Kông (tăng 974,58%). Các thị trường còn lại có mức tăng từ 1,98% - 109,86%.
Bên cạnh đó, xuất khẩu giầy dép sang một số thị trường khác bị sụt giảm như: Hàn Quốc, CuBa, Malaixia, Ucraina, UAE,… với mức giảm lần lượt là 100%, 68,99%, 56,81%, 39,17%, 23,86%,…
Thị trường xuất khẩu giầy dép của nước ta trong tháng 6 và 6 tháng đầu năm 2011
|
Thị trường
|
T6/11 (USD)
|
So T5/11 (%)
|
So T6/10 (%)
|
6T/11 (USD)
|
So 6T/10 (%)
|
|
EU
|
281.992.829
|
18,70
|
24,75
|
1.212.401.259
|
18,54
|
|
Anh
|
46.692.186
|
-6,40
|
1,20
|
241.874.686
|
-0,20
|
|
Bỉ
|
43.382.425
|
55,12
|
68,27
|
163.484.457
|
43,41
|
|
CHLB Đức
|
42.773.972
|
21,16
|
18,23
|
186.045.279
|
14,94
|
|
Hà Lan
|
39.210.785
|
12,04
|
22,37
|
172.254.885
|
27,38
|
|
Italia
|
29.986.923
|
24,80
|
18,39
|
116.364.324
|
15,52
|
|
Pháp
|
28.870.889
|
5,55
|
19,38
|
117.770.039
|
29,68
|
|
Tây Ban Nha
|
23.257.049
|
10,75
|
9,79
|
118.727.550
|
2,86
|
|
Áo
|
6.027.820
|
-16,52
|
30,85
|
32.076.545
|
62,36
|
|
Slôvakia
|
5.665.786
|
*
|
*
|
9.127.893
|
*
|
|
Thụy Điển
|
5.503.426
|
34,20
|
38,86
|
18.038.698
|
9,76
|
|
Hy Lạp
|
3.335.807
|
121,77
|
39,70
|
9.131.087
|
25,43
|
|
Đan Mạch
|
3.298.863
|
100,80
|
80,65
|
12.415.880
|
40,04
|
|
CH Séc
|
2.018.189
|
54,86
|
57,25
|
8.346.216
|
45,72
|
|
Ba Lan
|
1.287.070
|
72,32
|
100,05
|
3.516.726
|
64,29
|
|
Phần Lan
|
355.515
|
17,60
|
-18,52
|
2.254.166
|
36,39
|
|
Bồ Đào Nha
|
326.124
|
58,95
|
376,22
|
972.828
|
109,86
|
|
Mỹ
|
167.875.944
|
-3,48
|
40,08
|
880.769.770
|
42,22
|
|
Nhật Bản
|
22.598.079
|
42,91
|
51,02
|
128.168.549
|
65,46
|
|
Trung Quốc
|
20.228.661
|
10,77
|
117,33
|
105.279.219
|
65,32
|
|
Mêxicô
|
15.392.604
|
10,16
|
-19,89
|
89.348.978
|
10,43
|
|
Braxin
|
13.391.382
|
9,34
|
84,38
|
78.966.697
|
59,45
|
|
Hàn Quốc
|
16.915.183
|
28,38
|
*
|
68.729.329
|
-100,00
|
|
Panama
|
19.756.755
|
168,20
|
40,34
|
60.577.732
|
68,63
|
|
Canada
|
12.100.836
|
1,66
|
18,71
|
55.177.658
|
20,38
|
|
ASEAN
|
7.093.274
|
51,21
|
-7,35
|
36.929.162
|
-3,38
|
|
Malaixia
|
1.638.723
|
24,39
|
-57,35
|
11.520.223
|
-56,81
|
|
Singapore
|
1.928.564
|
42,49
|
88,14
|
8.620.937
|
-5,85
|
|
Philippine
|
1.234.281
|
77,59
|
-3,47
|
6.790.197
|
1,98
|
|
Indonesia
|
894.400
|
56,73
|
110,24
|
4.836.926
|
39,17
|
|
Thái Lan
|
1.397.306
|
85,16
|
124,38
|
5.160.879
|
22,63
|
|
Hồng Kông
|
9.320.671
|
57,94
|
1801,19
|
34.111.974
|
974,58
|
|
Australia
|
6.067.929
|
32,03
|
7,82
|
28.261.009
|
23,97
|
|
Đài Loan
|
5.642.328
|
45,42
|
49,20
|
26.551.928
|
20,81
|
|
Nga
|
6.647.205
|
25,17
|
55,87
|
26.163.662
|
30,36
|
|
Nam Phi
|
5.786.668
|
54,00
|
4,94
|
24.308.198
|
6,00
|
|
UAE
|
3.232.296
|
-6,96
|
-36,17
|
13.495.393
|
-23,86
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
2.542.594
|
-32,09
|
9,40
|
10.740.559
|
-3,72
|
|
Thụy Sỹ
|
2.182.806
|
-18,24
|
-10,61
|
10.079.707
|
10,94
|
|
Nauy
|
2.033.799
|
19,32
|
15,36
|
8.087.300
|
-1,69
|
|
Ấn Độ
|
2.742.950
|
51,79
|
99,88
|
8.625.103
|
86,95
|
|
Ucraina
|
971.589
|
56,72
|
-31,57
|
3.283.800
|
-39,17
|
|
CuBa
|
102.121
|
*
|
-70,66
|
743.109
|
-68,99
|
|
Chilê
|
3.539.941
|
*
|
*
|
26.499.924
|
5152,41
|
|
New Zeland
|
899.000
|
*
|
*
|
4.982.823
|
*
|
Tinthuongmai