Tính đến giữa tháng 5/2011, xuất khẩu mặt hàng giày dép của Việt Nam đã đạt 2,03 tỷ USD, tăng 30,12% so với cùng kỳ 2010. Ước tính, trong 5 tháng đầu năm nay, xuất khẩu mặt hàng này sẽ thu về khoảng 2,368 tỷ USD, tăng mạnh 131,8% so với 5 tháng/2010.
Triển vọng xuất khẩu của ngành da giày: Việt Nam cần giành thế chủ động
Hiện nay, giày dép xuất khẩu do Việt Nam sản xuất phần lớn đều thông qua đối tác thứ 3, trong khi đó hoạt động kinh doanh trực tiếp còn rất hạn chế và phụ thuộc nhiều vào nước ngoài về vốn, kỹ thuật, nguyên phụ liệu và thị trường. Để nâng cao tính cạnh tranh, ngành giày Việt Nam cần chủ động trong sản xuất, từ đó giành thế chủ động trong kinh doanh xuất khẩu.
Thách thức lớn nhất của ngành giầy dép Việt Nam vẫn là tính cạnh tranh còn yếu so với các nước xuất khẩu giầy dép trong khu vực, đặc biệt là với nước xuất khẩu giày lớn (như Trung Quốc) do thiếu khả năng tự đảm bảo vật tư nguyên liệu trong nước, điều kiện kinh tế và hạ tầng dịch vụ của nước ta cũng chưa theo kịp các nước. Hơn thế, các doanh nghiệp phần lớn sản xuất theo phương thức gia công, phía nước ngoài thực hiện tất các những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu (đầu vào) đến tiêu thụ sản phẩm (đầu ra), do đó phụ thuộc nhiều vào khách hàng và hiệu quả thu được thấp.
Xuất khẩu giày dép Việt Nam lại đang chịu sự tác động mạnh mẽ của xu thế chuyển dịch, sự thay đổi trong chính sách nhập khẩu của các thị trường lớn như EU, Mỹ, Nhật Bản…thay đổi cách thức mua hàng và yêu cầu ngày càng cao về tiêu chuẩn chất lượng, các tiêu chuẩn môi trường, trách nhiệm xã hội…của các nhà nhập khẩu, người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu. Những điều này đòi hỏi các doanh nghiệp cần chuyển dịch sản xuất từ gia công sang tự sản xuất và tiêu thụ sản phẩm một cách có hệ thống.
Bên cạnh đó, trong những tháng đầu năm 2011 các doanh nghiệp sản xuất nói chung cũng như các doanh nghiệp giày dép nói riêng đã gặp rất nhiều khó khăn về chi phí đầu vào, tăng giá về nguyên vật liệu, tác động từ tỷ giá. Cụ thể, giá xăng dầu tăng khiến cước vận chuyển sản phẩm da giày cũng tăng theo vì hàng cồng kềnh tốn nhiều công vận chuyển. Sự tăng giá của xăng dầu, điện, không chỉ tác động đến sản xuất của doanh nghiệp và còn tác động đến cả đời sống của công nhân, đặt doanh nghiệp trước áp lực phải tăng lương để giữ lao động. Trong khi đó, giá nhiều loại nguyên liệu như da, cao su…cũng đều tăng. Mặt khác, các doanh nghiệp này cũng đứng trước khó khăn về lãi suất ngân hàng, cộng với nhập khẩu nguyên liệu cũng không dễ vì các nhà cung ứng có xu hướng đóng cửa, chờ giá ổn định mới bán. Về chênh lệch tỷ giá USD/VND, ở ngành da giày hầu hết các doanh nghiệp đều phải nhập khẩu nguyên phụ liệu, nên bị ảnh hưởng mạnh mẽ. Năm 2010, giá nguyên phụ liệu tăng trung bình từ 15- 20%; chi phí lao động tăng đến 30%...
Do đó, để ngành da giầy có thể phát triển bền vững trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần phải kết nối được các công đoạn với nhau, như công đoạn thiết kế và sản xuất. Có đội ngũ nhân viên đủ trình độ về mặt khai thác nguồn nguyên vật liệu, một đội ngũ nhân viên bán hàng, chăm sóc khách hàng chuyên nghiệp và một đội ngũ nhân viên chuyên trách thực hiện thủ tục xuất nhập khẩu, am hiểu về lĩnh vực tài chính đồng thời phải nâng cao quy trình sản xuất, đổi mới công nghệ và máy móc thiết bị.
Năm 2020: Ngành da giày trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam
Với mục tiêu đưa ngành xuất khẩu da giầy trở thành ngành xuất khẩu mũi nhọn vào năm 2020, Bộ Công Thương đã đề ra trong Quy hoạch phát triển tổng thể ngành da giày Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025.
Theo đó, đến năm 2015, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta sẽ đạt 9,1 tỷ USD, năm 2020 đạt 14,5 tỷ USD và năm 2025 đạt 21 tỷ USD. Bên cạnh đó, việc nâng dần tỷ lệ nội địa hóa các loại sản phẩm cũng là một trong những vấn đề trọng điểm đặt ra trong quy hoạch ngành. Đến năm 2015, ngành da giày phấn đấu tỷ lệ nội địa hóa đạt 60-65%, năm 2020 đạt từ 75-80% và đến năm 2025 đạt từ 80-85%.
Với hơn 59.500 tỷ đồng đầu tư cho phát triển ngành giai đoạn 2011-2020, hy vọng ngành da giày Việt Nam sẽ có những bước tiến dài, trở thành ngành công nghiệp xuất khẩu mũi nhọn, góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
Về thị trường xuất khẩu: Trong tháng 4/2011, kim ngạch xuất khẩu giày dép sang thị trường EU tiếp tục duy trì ở vị trí số 1, với 185,4 triệu USD, tăng 20,07% so với tháng 3/2011, và tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2010. Nâng tổng kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này sang thị trường EU trong 4 tháng đầu năm 2011 đạt 692 triệu USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm ngoái, chiếm 38,2% tổng kim ngạch xuất khẩu giày dép của Việt Nam.
Theo đó, xuất khẩu giầy dép sang thị trường Anh đạt kim ngạch cao nhất trong khối EU, đạt 39,7 triệu USD tăng 11,09% so với tháng trước. Tính chung 4 tháng/2011, tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang Anh đạt 146,6 triệu USD, giảm nhẹ 3,36% so với 4 tháng/2010. Đáng chú ý, so với cùng kỳ năm 2010, trong 4 tháng/2011 ngoại trừ hai thị trường Anh và Tây Ban Nha có kim ngạch giảm sút (kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang Tây Ban Nha đạt 74,45 triệu USD, giảm 2,08%), thì kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường còn lại đều duy trì được mức tăng trưởng trên 10%. Trong đó, có nhiều thị trường đạt mức tăng khá cao như: áo tăng 75,5%, đạt 18,88 triệu USD; CH Séc đạt 8,18 triệu USD, tăng 77,42%; Phần Lan tăng 60,7%, đạt 1,59 triệu USD…
Xuất khẩu giầy dép sang thị trường Mỹ vẫn tiếp tục giữ vững mức tăng trưởng tốt và ổn định, với kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này trong tháng 4/2011 đạt 159,9 triệu USD, tăng 7,33% so với tháng 3/2011; còn so với tháng 4/2010 cũng tăng 33,5%.Tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang thị trường Mỹ trong 4 tháng đầu năm 2011 lên mức 539,8 triệu USD, tăng mạnh 40% so với cùng kỳ năm 2010, chiếm gần 30% tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép của cả nước.
Đặc biệt đáng chú ý, xuất khẩu giày dép của nước ta sang thị trường Nhật Bản đã bị ảnh hưởng nhiều từ trận động đất và sóng thần tại Nhật Ban hồi đầu tháng 3, dẫn đến Nhật Bản từ thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của giày dép Việt Nam tụt xuống vị trí thứ 6 trong tháng 4/2011, với kim ngạch đạt 12,2 triệu USD, giảm mạnh 50,84% so với tháng trước; tuy nhiên vẫn tăng 55,9% so với cùng kỳ năm 2010. Tổng kim ngạch xuất khẩu giầy dép sang Nhật Bản trong 4 tháng qua vẫn đạt mức tăng trưởng 65,5% so với cùng kỳ năm 2010, đạt 90 triệu USD.
Ngoài ra, kim ngạch xuất khẩu giầy dép của nước ta trong 4 tháng đầu năm 2011 sang một số thị trường lớn khác như Trung Quốc, Mexico, Braxin, Hàn Quốc, Panama, Canada… có mức tăng trưởng trên 18% so với cùng kỳ năm trước, trong đó, xuất khẩu sang Panama tăng mạnh nhất 101% so với cùng kỳ năm 2010. Xuất khẩu giầy dép sang các nước trong khối ASEAN đạt trên 25,2 triệu USD trong 4 tháng qua, với mức tăng trưởng trên 36% so với cùng kỳ năm 2010. Trong đó, xuất khẩu sang Malaixia cao nhất về kim ngạch với 8,5 triệu USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm trước, còn Philippine là nước có mức tăng trưởng xuất khẩu mạnh nhất 109% so với các nước khác trong khối.
Như vậy, kể từ đầu năm đến nay giày dép là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực có mức tăng trưởng ổn định nhất, trung bình đạt trên 25%/tháng. Theo Hiệp hội da giày Việt Nam (Lefaso), hiện các doanh nghiệp xuất khẩu giầy dép của nước ta đã thỏa thuận được đơn hàng đến hết năm 2011, trong đó, các hợp đồng chính thức phần lớn đã ký xong cho quý 3/2011.
Một số thị trường xuất khẩu giầy dép của Việt Nam trong tháng 4 và 4 tháng đầu năm 2011
|
Thị trường
|
T4/11 (USD)
|
So T3/11 (%)
|
So T4/10 (%)
|
4 T/11 (USD)
|
So 4T/10 (%)
|
|
EU
|
185.402.586
|
20,07
|
17,30
|
692.337.707
|
14,12
|
|
Anh
|
39.706.780
|
11,09
|
-12,39
|
146.611.415
|
-3,36
|
|
CHLB Đức
|
25.406.646
|
24,95
|
18,88
|
108.023.290
|
12,79
|
|
Hà Lan
|
27.953.603
|
6,35
|
40,26
|
98.920.954
|
35,44
|
|
Bỉ
|
22.076.674
|
12,17
|
48,32
|
92.179.177
|
32,41
|
|
Tây Ban Nha
|
20.011.149
|
15,55
|
-11,94
|
74.451.156
|
-2,08
|
|
Italia
|
14.577.919
|
14,20
|
58,07
|
62.938.417
|
4,45
|
|
Pháp
|
19.806.325
|
66,21
|
36,13
|
61.229.078
|
34,36
|
|
Áo
|
8.301.142
|
100,22
|
91,55
|
18.883.978
|
75,56
|
|
Thụy Điển
|
2.080.855
|
66,86
|
-2,99
|
8.461.410
|
-8,31
|
|
Đan mạch
|
1.449.214
|
-6,96
|
9,48
|
7.557.872
|
32,66
|
|
CH Séc
|
2.071.322
|
121,18
|
153,60
|
5.185.378
|
77,42
|
|
Hy Lạp
|
1.603.672
|
25,21
|
31,99
|
4.372.010
|
20,14
|
|
Phần Lan
|
233.234
|
-69,29
|
15,36
|
1.596.354
|
60,79
|
|
Ba Lan
|
124.051
|
-39,62
|
-
|
1.485.686
|
37,03
|
|
Bồ Đào Nha
|
-
|
-
|
-
|
441.532
|
15,71
|
|
Mỹ
|
159.598.703
|
7,33
|
33,50
|
539.862.013
|
40,81
|
|
Nhật Bản
|
12.223.756
|
-50,84
|
55,95
|
90.042.565
|
65,50
|
|
Trung Quốc
|
15.848.604
|
-7,81
|
46,55
|
67.200.641
|
59,29
|
|
Mexico
|
15.749.759
|
-9,57
|
3,30
|
59.778.907
|
18,67
|
|
Braxin
|
18.637.074
|
105,57
|
93,36
|
53.353.105
|
53,38
|
|
Hàn Quốc
|
5.920.162
|
-49,97
|
8,27
|
38.693.550
|
50,11
|
|
Panama
|
8.007.081
|
4,25
|
145,46
|
32.478.741
|
101,75
|
|
Canada
|
10.303.729
|
48,39
|
20,82
|
31.168.823
|
18,64
|
|
ASEAN
|
6.847.052
|
-4,57
|
115,84
|
25.243.105
|
36,49
|
|
Malaixia
|
2.002.864
|
10,99
|
132,50
|
8.530.904
|
22,52
|
|
Singapore
|
1.374.923
|
-12,52
|
45,27
|
5.345.410
|
26,15
|
|
Philippines
|
1.368.751
|
-30,19
|
283,73
|
4.860.890
|
109,95
|
|
Indonesia
|
1.095.760
|
-2,40
|
67,33
|
3.379.906
|
14,47
|
|
Thái Lan
|
1.004.754
|
40,40
|
184,74
|
3.125.995
|
54,31
|
|
Hồng Kông
|
4.176.822
|
-33,78
|
35,93
|
18.991.716
|
38,71
|
|
Oxtralia
|
5.184.815
|
17,06
|
29,28
|
17.873.931
|
23,30
|
|
Đài Loan
|
4.951.416
|
-7,54
|
59,38
|
17.030.289
|
31,41
|
|
Nam Phi
|
4.645.591
|
35,91
|
32,60
|
14.775.829
|
42,36
|
|
Nga
|
2.304.926
|
-15,51
|
-44,72
|
14.238.921
|
14,52
|
|
UAE
|
2.446.552
|
99,47
|
91,89
|
6.785.908
|
5,34
|
|
Thụy Sỹ
|
1.340.835
|
28,60
|
54,86
|
5.215.709
|
4,86
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
1.649.983
|
148,67
|
26,53
|
4.462.430
|
16,50
|
|
Nauy
|
1.359.842
|
141,40
|
251,17
|
4.349.062
|
81,89
|
|
Ấn Độ
|
1.230.774
|
9,62
|
261,54
|
4.075.059
|
60,46
|
|
Ucraina
|
274.178
|
41,14
|
18,53
|
1.692.279
|
16,46
|
|
Cuba
|
97.139
|
-
|
-17,08
|
648.610
|
28,56
|
Tinthuongmai